9. Thủy Sám Hoàn Quyển Biểu
Nguyên văn:
水懺完卷表
伏以
大德巍巍、濟物神機之莫測、細心翼翼、爲親念切之無虧、簡奏寸誠、香薰五分。謹奏爲
大南國兼攝尊人府右尊卿寶豐欽奉
敕旨建壇于純毅堅太王祠奉
佛修齋諷經資福酬恩事、維日虔僃香齋、披宣文懺、仰干
蓮眼之舒光、俯鑒葵情之篤懇、願俾金靈而證果、恭祈寶祚以安康。兹者辰惟孟月、節屆夏天、壇開三晝之連霄、僧仗六和之淨侶、開宣慈悲三昧水懺一二三巻已完、謹具表文一函、誠惶誠恐、和南上奏。
南無道塲敎主本師釋迦牟尼文佛金蓮座下。
恭惟、中天敎主、無上法王、開卍字於胸前、金身秀異、躡千輪於足下、玉相莊嚴、七七年之敎法宣揚、無量無邊無數刼、萬萬刼之衆生化導、大雄大力大慈悲、寔惟功德無邊、讚嘆莫及者也。恭望鴻慈、允今所奏。
伏願、琅函披閱、演半言而一性了明、懺法宣揚、聞四句而六根清淨、拜(法,報,化)身佛于金蓮座上、參(等,妙,圓)覺地于白玉龕中、臣弟子沙門冐干慈悲不勝、激切屛營之至。謹表代奏以聞。
啟定六年歲次庚申四月十日弟子沙門清泰具表。
Phiên âm:
THỦY SÁM HOÀN QUYỂN BIỂU1
Phục dĩ:
Đại đức nguy nguy, tế vật thần cơ2 chi mạc trắc; tế tâm dực dực, vi thân niệm thiết chi vô khuy; giản tấu thốn thành, hương huân Ngũ Phận.3
Cẩn tấu vị: Đại Nam Quốc Kiêm Nhiếp Tôn Nhân Phủ Hữu Tôn Khanh Bảo Phong khâm phụng sắc chỉ kiến đàn vu Thuần Nghị Kiên Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự. Duy nhật kiền bị hương trai,4 phi tuyên văn sám; ngưỡng can Liên Nhãn chi thư quang, phủ giám quỳ tình chi đốc khẩn; nguyện tỷ kim linh nhi chứng quả, cung kỳ bảo tộ dĩ an khang. Tư giả thần duy mạnh nguyệt, tiết giới Hạ thiên; đàn khai tam trú chi liên tiêu, tăng trượng Lục Hòa chi tịnh lữ; khai tuyên Từ Bi Tam Muội Thủy Sám5 đệ (nhất, nhị, tam) quyển dĩ hoàn, cẩn cụ biểu văn nhất hàm, thành hoàng thành khủng, hòa nam thượng tấu:
Nam Mô Đạo Tràng Giáo Chủ Hổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật kim liên tọa hạ.
Cung duy: Trung thiên Giáo Chủ, vô thượng Pháp Vương;6 khai Vạn tự7 ư hung tiền, kim thân tú dị; niếp thiên luân ư túc hạ, ngọc tướng8 trang nghiêm; thất thất niên chi giáo pháp tuyên dương, vô lượng vô biên vô kiếp số; vạn vạn kiếp chi chúng sanh hóa đạo, Đại Hùng9 Đại Lực10 Đại Từ Bi;11thật duy công đức vô biên, tán thán mạc cập giả dã. Cung vọng hồng từ, doãn kim sở tấu.
Phục nguyện: Lang hàm phi duyệt, diễn bán ngôn12 nhi nhất tánh liễu minh; sám pháp tuyên dương, văn Tứ Cú13 nhi Lục Căn14 thanh tịnh; bái (Pháp Thân,15 Báo Thân,16 Hóa Thân17) Phật vu Kim Liên18 tòa hạ, tham (Đẳng Giác,19 Diệu Giác,21 Viên Giác21) Địa vu bạch ngọc kham trung; thần đệ tử Sa Môn mạo can từ bi bất thắng, kích thiết bình doanh chi chí. Cẩn biểu đại tấu dĩ văn.
Khải định lục niên,22 tuế thứ Canh Thân tứ nguyệt thập nhật, đệ tử Sa Môn Thanh Thái cụ biểu.
Dịch nghĩa:
VĂN BIỂU CÚNG HOÀN KINH THỦY SÁM
Cúi nghĩ:
Đức cả nguy nga, cứu vật thần cơ sao khó lượng; lòng đơn kính cẩn, vì thân nhớ mãi vẫn không tròn; dâng cả tấc thành, hương xông năm món. Kính tâu:
Việc Hữu Tôn Khanh Bảo Phong, Kiêm Nhiếp Tôn Nhân Phủ, nước Đại Nam, vâng mạng sắc chỉ lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn. Hôm nay dọn đủ cỗ chay, tuyên bày văn sám; nguyện mong đấng Liên Nhãn phóng quang, chứng giám lòng thành bao khẩn thiết; nguyện cho kim linh mau chứng quả, kính cầu ngôi báu được an khang. Hôm nay gặp lúc đầu tháng, tiết thuộc trời Hè; đàn khai ba ngày liền ba đêm, tăng nương Lục Hòa ấy thanh tịnh; tuyên khai Từ Bi Tam Muội Thủy Sám quyển (một, hai, ba) đã xong, kính dâng một bức biểu văn; chí thành chí thiết, kính cẩn tâu lên:
Kính lạy đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, giáo chủ Đạo Tràng, trên tòa sen vàng chứng giám cho.
Kính mong: Trung thiên Giáo Chủ, vô thượng Pháp Vương; bày chữ Vạn nơi trước ngực, thân vàng đẹp lạ; bước ngàn xe ở dưới chân, tướng ngọc trang nghiêm; bốn chín năm bao giáo pháp tuyên dương, vô lượng vô biên vô số kiếp; vạn vạn kiếp muôn chúng sanh hóa đạo, đại hùng đại lực đại từ bi; thật quả công đức vô biên, tán thán không sao cùng tận; ngưỡng trông đức từ, chứng cho văn tấu.
Cúi mong: Rương kinh đọc kỹ, diễn nữa lời mà một tánh sáng trong; sám pháp tuyên dương, bày Bốn Câu mà Sáu Căn thanh tịnh; lạy (Pháp Thân, Báo Thân, Hóa Thân) Phật trên tòa sen báu ấy, tham (Đẳng Giác, Diệu Giác, Viên Giác) cảnh địa trong hòm ngọc trắng; thần đệ tử Sa Môn mạo xin từ bi không xiết, bớt nỗi lo âu cùng tột. Kính thay lời biểu tâu lên xin lắng nghe cho.
Ngày mồng 10 tháng tư năm Canh Thân (nhằm ngày 27 tháng 5 năm 1920), niên hiệu Khải Định thứ 5. Đệ tử Sa Môn Thanh Thái kính dâng biểu.
Chú thích:
- Biểu (表): là một loại Tấu Chương thời xưa được quần thần dùng để trình cấp lên đế vương; như Xuất Sư Biểu (出師表) của Gia Cát Lượng (諸葛亮, 181-234) nhà Thục Hán thời Tam Quốc (三國, 221-420), Trần Tình Biểu (陳情表) của Lý Mật (李密, 224-287), v.v. Trong bài tựa Văn Thể Minh Biện (文體明辨) của học giả Từ Sư Tằng (徐師曾, 1517-1580) nhà Minh có giải thích rằng: “Cổ giả hí ngôn ư quân, giai xưng thượng thư, Hán định lễ nghĩa, nãi hữu tứ phẩm, kỳ tam viết Biểu; nhiên đản dụng dĩ trần thỉnh nhi dĩ, hậu thế nhân chi, kỳ dụng tẩm quảng (古者獻言於君、皆稱上書、漢定禮儀、乃有四品、其三曰表、然但用以陳請而已、後世因之、其用寖廣, người xưa nói đùa với nhà vua, đều gọi là dâng thư lên, nhà Hán định ra lễ nghĩa, có bốn loại, loại thứ ba là Biểu; tuy nhiên chỉ dùng để bày tỏ thỉnh cầu mà thôi; đời sau nhân đó, dùng Biểu càng lúc càng rộng rãi).”
- Thần cơ (神機): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ máy dệt vải. (2) Chỉ cho cơ vận, thời cơ. Như trong Đáp Phục Hy Thư (答伏羲書) của Nguyễn Tịch (阮籍, 210-263) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Nhược lương vận vị hiệp, thần cơ vô chuẩn (若良運未協、神機無准, nếu vận tốt không gặp thì thời cơ không đúng).” Hay trong truyện Tái Sanh Duyên (再生緣), hồi thứ 63 lại có câu: “Ngộ triệt thần cơ nhất niệm chơn, tiện tùng Cực Lạc chuyển kim luân (悟徹神機一念眞、便從極樂轉金輪, rõ biết thần cơ một niệm chơn, bèn từ Cực Lạc chuyển pháp luân).” Trong Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 1, phần Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Lục Hội Ngữ Lục Tự (佛日普照慧辯楚石禪師六會語錄序) có câu: “Đại Huệ đề xướng Viên Ngộ chi đạo ư Kính Sơn, thần cơ diệu dụng, quảng đại vô ngại(大慧提唱圜悟之道於徑山、神機妙用、廣大無礙, Đại Huệ đề xướng, Viên Ngộ truyền đạo ở Kính Sơn, thần cơ mầu nhiệm, rộng lớn không ngăn ngại).” Hoặc trong Ngốc Am Phổ Trang Thiền Sư Ngữ Lục (呆菴普莊禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1418) quyển 3 có đoạn: “Vạn duyên tịch tức, nhất tánh dung thông, đại dụng toàn chương, thần cơ độc lộ, cổ Phật dữ lộ trụ giao tham (萬緣寢息、一性融通、大用全彰、神機獨露、古佛與露柱交參, vạn duyên lặng dứt, một tánh thông suốt, đại dụng lộ rõ, thần cơ hiện bày, Phật xưa cùng cột trụ tham vấn).”
- Ngũ Phận Hương (五分香): hay Ngũ Hương (五香), là 5 phần hương, gồm hương của Giới (s: śīla, p: sīla, 戒), hương của Định (s, p: samādhi, 定), hương của Tuệ (s: prajñā, p: paññā, 慧), hương của Giải Thoát (s: vimukti, p: vimutti, 解脫) và hương của Giải Thoát Tri [Trí] Kiến (s: vimuktijñāna-darśana, p: vimutti-ñāṇadassana, 解脫知[智]見). Nhân lấy hương dụ cho 5 phần Pháp Thân (法身). Bậc Thánh giả vô học thành tựu 5 loại pháp công đức nơi tự thân, được gọi là 5 phần Pháp Thân; tức Giới Thân (戒身), Định Thân (定身), Tuệ Thân (慧身), Giải Thoát Thân (解脫身), Giải Thoát Tri Kiến Thân (解脫知見身). Nếu lấy hương để ví dụ thì có 5 loại hương như nêu trên. Như trong Sơ Học Ký (初學記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1253) có giải thích rằng: “Ngũ phần giả, tức Giới Định Tuệ Giải Thoát Giải Thoát Tri Kiến dã; chuyển Ngũ Uẩn nhục thân, vi Ngũ Phần Pháp Thân, phân thế xuất thế gian chi dị; kim Ngũ Phần Hương, giai xưng vi Giới giả, dĩ Giới vi sơ, do Giới sanh cố (五分者、卽戒定慧解脫解脫知見也、轉五蘊肉身、爲五分法身、分世出世間之異、今五分香、皆稱爲戒者、以戒爲初、由戒生故, năm phần tức là Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến; chuyển nhục thân Năm Uẩn thành Năm Phần Pháp Thân, chia ra khác nhau giữa thế gian và xuất thế gian; nay Năm Phần Hương đều được gọi là Giới, lấy Giới làm đầu tiên, vì do Giới mà sanh ra).” Hay trong Bồ Tát Tùng Đâu Thuật Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ Kinh (菩薩從兜術天降神母胎說廣普經, Taishō Vol. 12, No. 384) quyển 2 có đoạn: “Giới hương định hương tuệ hương giải thoát hương giải thoát tri kiến hương, giáo thọ chúng sanh đại từ vô biên hương, bi mẫn chúng sanh hương, hỷ duyệt hòa nhan hương (戒香定香慧香解脫香解脫知見香、敎授眾生大慈無邊香、悲愍眾生香、喜悅和顏香, hương Giới, hương Định, hương Tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến, hương dạy dỗ chúng sanh từ bi vô biên, hương thương xót chúng sanh, hương vui vẻ gương mặt hòa kính).”
- Hương trai (香齋): từ mỹ xưng của cỗ chay thanh tịnh, ngát hương thành kính, nhất tâm cúng dường. Như trong Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển 1 có bài tán: “Cát tường hội khải, Cam Lộ môn khai, cô hồn Phật tử giáng lâm lai, văn pháp phó hương trai, huýnh thoát luân hồi, u ám nhất thời khai (吉祥會啟、甘露門開、孤魂佛子降臨來、聞法赴香齋、迥脫輪回、幽暗一時開, cát tường hội mở, Cam Lộ cửa bày, cô hồn Phật tử giáng xuống đây, nghe pháp dự cỗ chay, mãi thoát luân hồi, u ám tỏa sáng khai).” Hay trong Tức Hưu Khế Liễu Thiền Sư Thập Di Tập (卽休契了禪師拾遺集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1408) có bài Đề Long Vương Thỉnh La Hán Trai Đồ (題龍王請羅漢齋圖) rằng: “Long Vương cung lí bão hương trai, độ thủy xuyên vân phí vãng lai, hà tợ lăng hư chấn Kim Tích, triêu du Nam Nhạc mộ Thiên Thai (龍王宮裏飽香齋、渡水穿雲費往來、何似凌虛振金錫、朝遊南嶽暮天台, trong cung Long Vương no cỗ chay, vượt nước xuyên mây nhọc đến đây, sao giống lướt không chấn Tích Trượng, sáng chơi Nam Nhạc tối Thiên Thai).”
- Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp (慈悲三昧水懺法): hay còn gọi là Từ Bi Thủy Sám Pháp (慈悲水懺法, Taishō No. 1910), 3 quyển, do Tri Huyền (知玄, 811-883) nhà Đường trước thuật, là bộ sách chỉ về phương pháp sám hối, hình thành từ bản Viên Giác Kinh Tu Chứng Nghi (圓覺經修證儀) của Tông Mật (宗密, 780-841), được thâu lục vào trong Taishō quyển 45. Dưới thời vua Ý Tông (懿宗, tại vị 859-873) nhà Đường, quốc sư Ngộ Đạt Tri Huyền có mụt nhọt mặt người trên đầu gối, khuôn mặt ấy có đầy đủ lông mày, mắt, miệng, răng; cứ mỗi lần ăn uống thì cũng đút cho ăn, nó hả miệng nhai nuốt chẳng khác gì người thường cả. Tuy Ngộ Đạt có mời danh y đến chữa nhưng vô hiệu. Sau nhờ có tôn giả Ca Nặc Ca (迦諾迦) giúp đỡ, ông thành tâm sám hối và dùng nước Tam Muội rửa mụt nhọt ấy, mụt mới lành. Nhân đó quốc sư bèn viết ra sách nầy để cho người đời sau nương đó mà sám hối. Hình thức của sách nầy cũng giống như các sách sám hối khác, trước hết đối trước chư Phật và Bồ Tát quy y, sau đọc văn sám hối, sám hối đối với hết thảy các phiền não chướng cũng như nghiệp chướng và báo chướng của Bốn Loài, Sáu Đường. Cuối cùng là văn hồi hướng phát nguyện. Nếu chúng sanh nào nương vào phương pháp sám hối nầy mà chí thành sám hối tội lỗi của mình, có thể làm cho tiêu tan những oan nghiệp trong đời trước. Cho nên phương pháp nầy được thịnh hành mãi cho đến ngày nay dưới tên gọi là Thủy Sám. Tại Việt Nam, hình thức nầy cũng được ứng dụng rộng rãi trong Thiền môn cũng như tầng lớp tại gia cư sĩ. Trong Từ Bi Thủy Sám Pháp có giải thích rằng: “Phù Tam Muội Thủy Sám giả, nhân Đường Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền, ngộ Ca Nặc Ca Tôn Giả, dĩ Tam Muội thủy vi trạc tích thế oán cừu, Tri Huyền toại diễn Đại Giác chi chỉ, thuật vi sám văn (夫三昧水懺者、因唐悟達國師知玄、遇迦諾迦尊者、以三昧水爲濯積世怨讎、知玄遂演大覺之旨、述爲懺文, phàm Tam Muội Thủy Sám là nhân vì Ngộ Đạt quốc sư Tri Huyền nhà Đường, gặp Tôn Giả Ca Nặc Ca, lấy nước Tam Muội để rửa sạch các oán thù tích chứa xưa kia; Tri Huyền bèn diễn bày ý chỉ của đấng Đại Giác, thuật lại thành văn sám hối).” Bản chú giải về sám pháp nầy có Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám Pháp Khoa Chú (慈悲道塲水懺法科註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1496), 3 quyển, của Long Trú (龍住); Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám Pháp Tùy Văn Lục (慈悲道塲水懺法隨聞錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1495), 3 quyển, của Trí Chứng (智證). Tại Việt Nam, có một số bản Việt dịch hiện hành, trong đó bản của Hòa Thượng Thích Trí Quang được xem như văn từ sâu sắc, khúc chiết và chính xác.
- Pháp Vương (s: dharma-rāja, p: dhamma-rāja, 法王): có mấy nghĩa chính. (1) Là tôn xưng của đức Phật. Vương (王) có nghĩa là tối thắng, không ai bằng, tự tại, không ngăn ngại; đức Phật là chủ tể các pháp môn, có thể giáo hóa chúng sanh một cách tự tại, nên được gọi là Pháp vương. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) giải thích rằng: “Phật vi pháp vương tôn siêu chúng Thánh, phổ vị nhất thiết thiên nhân chi sư (佛爲法王尊超眾聖、普爲一切天人之師, đức Phật là vua pháp, tôn kính hơn các bậc Thánh, là thầy của khắp tất cả trời người).” Hay trong Thích Ca Phương Chí (釋迦方志, Taishō Vol. 51, No. 2088) quyển Thượng cho biết thêm rằng: “Phàm nhân cực vị danh viết Luân Vương, thánh nhân cực vị danh viết Pháp Vương (凡人極位名曰輪王、聖人極位名曰法王, ngôi vị cao tột của người phàm gọi là Luân Vương, ngôi vị cao tột của bậc Thánh là Pháp Vương).” (2) Là tôn xưng của vị Bồ Tát. Căn cứ vào Kinh Hoa Nghiêm quyển 27 cho biết rằng vị Bồ Tát khi thọ chức, chư Phật lấy nước trí tuệ rưới lên đỉnh đầu để cho vị ấy đầy đủ Mười Lực của đức Phật, có thể chuyển hóa 10 con đường thiện, nên được gọi là Quán Đảnh Pháp Vương (灌頂法王). Theo Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 27, vì vị Bồ Tát có đủ 4 việc, nên được gọi là Pháp Vương. Bốn việc đó là không bỏ đạo tâm; khuyến hóa người khác phát ý; lấy gốc của các đức mà khuyên giúp đạo tâm; khiến cho hết thảy Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, các bậc Thanh Văn cũng như Duyên Giác, đạt đến nghiệp cùng tận không hoại. (3) Là tên gọi khác của vua Diêm Ma (閻魔) dưới cõi u minh. (4) Là phong hiệu vị thủ lãnh của Phật Giáo Tây Tạng. Bắt đầu từ năm 1270 (Chí Nguyên [至元] thứ 7) đời vua Thế Tổ Hốt Tất Liệt (世祖忽必烈, tại vị 1260-1271, 1271-1294) nhà Nguyên, nhà vua phong cho Bát Tư Ba (八思巴), thủ lãnh của Phái Tát Ca (薩迦派), là Đại Bảo Pháp Vương (大寶法王). Đến năm 1406 (Vĩnh Lạc [永樂] thứ 4), vua Thành Tổ (成祖, tại vị 1402-1424) nhà Minh cho mời Cáp Lập Ma (哈立麻), vị Lạt Ma thủ lãnh của Phái Ca Nhĩ Cư (迦爾居派) đến Bắc Kinh, rồi đến năm sau thì phong cho vị nầy là Vạn Hạnh Cụ Túc Thập Phương Tối Thắng Viên Giác Diệu Trí Tuệ Thiện Phổ Ứng Hựu Quốc Diễn Giáo Như Lai Đại Bảo Pháp Vương Tây Thiên Tự Tại Phật (萬行具足十方最勝圓覺妙智慧善普應佑國演敎如來大寶法王西天自在佛), gọi tắt là Đại Bảo Pháp Vương. Từ đó về sau, lại phân biệt phong cho các vị Lạt Ma thượng thủ của hai phái Tát Ca và Cách Lỗ (格魯) là Đại Thừa Pháp Vương (大乘法王) và Đại Từ Pháp Vương (大慈法王). (5) Về phía Nhật Bản, dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara, 710-794), có Thiếu Tăng Đô Đạo Kính (道鏡, Dōkyō, ?-772), tăng sĩ của Pháp Tướng Tông, thường ra vào cung nội, được Thiên Hoàng sủng ái, ban tặng cho hiệu là Đại Thần Thiền Sư (大臣禪師). Rồi đến năm 766 (Thiên Bình Thần Hộ [天平神護] thứ 2), ông được ban cho chức vị Pháp Vương. Ngoài ra, Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622) cũng được tôn xưng là Thánh Đức Pháp Vương (聖德法王) hay Đại Pháp Vương Hoàng Thái Tử (大法王皇太子). Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có bài kệ Tán Phật (讚佛): “Pháp Vương vô thượng tôn, Tam Giới vô luân thất, thiên nhân chi đạo sư, Tứ Sanh chi từ phụ, ngã kim tạm quy y, năng diệt Tam Kỳ nghiệp, xưng dương nhược tán thán, ức kiếp mạc năng tận (法王無上尊、三界無倫匹、天人之導師、四生之慈父、我今暫皈依、能滅三祇業、稱揚若讚歎、億劫莫能盡, đấng pháp vương vô thượng, Ba Cõi chẳng ai bằng, thầy dạy khắp trời người, cha lành chung Bốn Loại, con nay tạm quy y, dứt sạch nghiệp Ba Kỳ, xưng dương và tán thán, ức kiếp không cùng tận).”
- Vạn tự (卍字): chữ Vạn, còn viết là 萬、万、卐; nguyên ngữ tiếng Sanskrit là śrīvatsalakṣana, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa Lạc Sát Nang (室利靺蹉洛剎囊), ý dịch là Cát Tường Hải Vân (吉祥海雲), Cát Tường Hỷ Toàn (吉祥喜旋), là một trong 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Phật, là đức tướng thường hiển hiện nơi ngực của chư Phật cũng như các Bồ Tát chứng quả Thập Địa (s: daśa-bhūmi, 十地). Đây cũng là một loại phù hiệu thường thấy ở các tượng Phật cũng như văn vật Phật Giáo. Một số kinh điển Phật Giáo nêu rõ vị trí của chữ Vạn như Đại Bổn Kinh (大本經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 1 cho biết rằng chữ Vạn thuộc tướng tốt thứ 16: “Thập lục, hung hữu Vạn tự (十六、胸有萬字, thứ mười sáu, trên ngực có chữ Vạn).” Hay Đại Tát Già Ni Càn Tử Sở Thuyết Kinh (大薩遮尼乾子所說經, Taishō Vol. 9, No. 272) quyển 6 cũng cho hay rằng: “Sa Môn Cù Đàm hung hữu Vạn tự thị công đức tướng (沙門瞿曇胸有萬字示功德相, nơi ngực của Sa Môn Cù Đàm có chữ Vạn, thể hiện tướng công đức).” Trong Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh (方廣大莊嚴經, Taishō Vol. 3, No. 187) quyển 3 giải thích rằng trong 80 vẻ đẹp của đức Phật thì chữ Vạn thuộc về vẻ đẹp thứ 78, thường thấy ở trên tóc: “Phát hữu ngũ Vạn tự (髮有五卍字, tóc có năm chữ Vạn).” Thập Địa Kinh Luận (十地經論, Taishō Vol. 26, No. 1522) quyển 12 nêu rõ rằng khi Thái Tử Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多) chưa thành Phật, nơi ngực người có chữ Vạn Kim Cang công đức trang nghiêm. Trong khi đó, Căn Bản Thuyết Nhiết Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 29 cho hay rằng nơi lưng của Phật có tướng chữ Vạn. Bên cạnh đó, Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (大般若波羅蜜多經, Taishō Vol. 7, No. 220) quyển 381 cho biết chữ Vạn nằm nơi ngực cũng như tay chân của đức Thế Tôn. Vào thời cổ đại Ấn Độ, chữ Vạn tượng trưng cho sự tốt đẹp. Ngoài đất nước nầy, Ba Tư, Hy Lạp đều có loại phù hiệu nầy, thông thường được xem như tượng trưng cho mặt trời, điện quang, lửa, dòng nước chảy, v.v. Xưa kia, Phật Giáo, Bà La Môn Giáo, Kỳ Na Giáo đều có sử dụng chữ Vạn. Người Ấn Độ cổ đại cho rằng phù hiệu chữ Vạn nầy hiện hữu nơi sợi lông xoăn ở ngực của Phạm Thiên, thần Viṣṇu, Kṛṣṇa, rộng khắp thể hiện tướng cát tường, thanh tịnh, viên mãn. Trong Phật Giáo, chữ Vạn là tướng cát tường ở nơi ngực của đức Phật cũng như chư vị Bồ Tát chứng quả Thập Địa, về sau dần dần trở thành dấu hiệu tiêu biểu cho Phật Giáo. Về tiếng Hán dịch của chữ nầy, xưa nay có vài thuyết khác nhau. Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413), Huyền Trang (玄奘, 602-664), v.v., thì dịch là “đức (德)”. Trong Thập Địa Kinh Luận, Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支, 562-727) dịch là “vạn (萬)” với ý nghĩa “vạn đức viên mãn (萬德圓滿)”. Trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) quyển 3, chữ nầy được dịch âm là vạn, nhưng không có ý dịch. Cho đến năm thứ 2 (693) niên hiệu Trường Thọ (長壽) của Võ Tắc Thiên (武則天, 624-705), Hoàng Hậu bắt đầu quy định chữ nầy đọc là “vạn”, với ý nghĩa là “tập trung vạn đức tốt lành”. Tiếng Phạn ngữ của chữ Vạn (卍) không phải chỉ có một, tỷ dụ như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh (新華嚴經) có đến 17 chỗ xuất hiện chữ nầy, đều dịch là vạn; nhưng nếu lấy nguyên ngữ đối chiếu, nguyên ngữ của chữ nầy có 4 loại: (1) śrīvatsa, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa (室利靺蹉), ý dịch là Cát Tường Ức (吉祥臆), Cát Tường Độc (吉祥犢); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 48 (Taishō No. 10) có đoạn: “Như Lai hung ức hữu đại nhân tướng, hình như Vạn tự, danh cát tường hải vân (如來胸臆有大人相、形如卍字、名吉祥海雲, nơi ngực của Đức Như Lai có tướng của bậc đại nhân, hình như chữ Vạn, tên là mây biển tốt lành).” Trong đó, nguyên ngữ chữ Vạn là śrīvatsa, ý chỉ cho lông tóc xoắn quanh, chồng lên nhau như hình dạng đám mây biển. (2) nandy-āvarta, âm dịch là Nan Đề Ca Vật Đa (難提迦物多), ý dịch là Hỷ Toàn (喜旋); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Kỳ phát hữu toàn, quang tịnh nhuận trạch, vạn tự nghiêm sức (其髪右旋、光淨潤澤、卍字嚴飾, tóc của Ngài xoay về bên phải, ánh sáng thanh tịnh, thấm khắp, chữ Vạn làm cho trang nghiêm).” Chữ Vạn trong câu nầy là nandy-āvarta, chỉ cho tướng tóc của Phật xoay về bên phải. (3) svastika, âm dịch là Tắc Phạ Tất Để Ca (塞嚩悉底迦), ý dịch là Hữu Lạc (有樂). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện nhất thiết chúng sanh đắc như Vạn tự phát, loa văn hữu toàn phát (願一切眾生得如卍字髪、螺文右旋髪, nguyện hết thảy chúng sanh đều được như mái tóc có chữ Vạn, mái tóc xoay về bên phải theo hình trôn ốc).” Chữ Vạn trong câu nầy là svastika, có hàm nghĩa “có niềm an lạc”. (4) pūrṇaghaṭa, âm dịch là Nang Già Tra (囊伽吒), ý dịch là Tăng Trưởng (增長). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện nhất thiết chúng sanh đắc luân tướng chỉ, chỉ tiết viên mãn, văn tướng hữu toàn, nguyện nhất thiết chúng sanh đắc như Liên Hoa Vạn tự toàn chỉ (願一切眾生得輪相指、指節圓滿、文相右旋、願一切眾生得如蓮華卍字旋指, nguyện cho hết thảy chúng sanh có ngón tay tướng bánh xe tròn, kẻ ngón tay tròn đầy, hoa văn tay xoay về bên phải, nguyện cho hết thảy chúng sanh có được ngón tay chữ Vạn như hoa sen).” Nguyên ngữ chữ Vạn trong câu nầy là pūrṇaghaṭa, chỉ hình tướng đầu bộ hay các kẻ ngón tay tròn đầy. Từ xa xưa, chữ Vạn đã có sự khác nhau về phương hướng xoay có nó. Trong Ấn Độ Giáo, các vị thần nam tánh thường dùng chữ Vạn (卐, hướng về bên phải) và thần nữ tánh thì dùng chữ Vạn (卍, hướng về bên trái). Đối với Phật Giáo, hiện tồn tại ngôi cổ tháp ở Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑) là chữ Vạn (卍, hướng về bên trái). Ngôi tháp nầy được kiến tạo dưới thời A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) để kỷ niệm đức Phật xưa kia đã từng nhập định tại đây. Tại Tây Tạng, phần lớn các giáo đồ của Lạt Ma Giáo đều dùng chữ Vạn (卐, hướng về bên phải). Tại Trung Quốc, trải qua các đời đều dùng cả hai. Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經) của Nhật Bản thì lấy chữ Vạn (卐) làm tiêu chuẩn; tuy nhiên, các bản Đại Tạng Kinh của nhà Tống, Nguyên, Minh đều dùng chữ Vạn (卍). Gần đây, vào khoảng thập niên 40 của thế kỷ 20, Đức Quốc Xã Hitler có dùng đến chữ Vạn (卍). Và cho đến nay, vẫn còn khá nhiều tranh luận về hướng xoay của chữ nầy theo quan điểm của Phật Giáo. Như trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3, bài Thỉnh Phật Văn (請佛文), có đoạn tán thán đức Phật như: “Nhất luân thiên phước tướng, thập hiệu vạn hùng tôn, đoan tọa liên đài, khinh thùy hà phục, kế tủng thanh sơn chi thúy, mục trừng lục thủy chi minh, thần diễm hồng đào, mi phân bích liễu, hung ấn đề ư Vạn tự, túc luân niếp ư thiên hoa, tỷ đĩnh hoàng kim, xỉ thiêu bạch ngọc (一輪千福相、十號萬雄尊、端座蓮臺、輕垂霞服、髻聳青山之翠、目澄綠水之明、唇豔紅桃、眉分碧柳、胸印題於卍字、足輪躡於千花、鼻挺黃金、齒挑白玉, một vòng ngàn phước tướng, Mười Hiệu vạn hùng tôn, ngự vững tòa sen, buông tà áo nhẹ, búi tóc vút núi xanh biếc, mắt lắng nước xanh sáng trong, môi ửng hồng đào, mi chia liễu thấm, ngực ấn đề nơi chữ Vạn, bánh xe chân hiện ngàn hoa, mũi lộ vàng ròng, răng bày ngọc trắng).”
- Ngọc tướng (玉相): chỉ cho bản chất thuần mỹ, cao quý như ngọc. Như trong bài thơ Tổ Đạo Triệu Vương Ứng Chiếu Thi (祖道趙王應詔詩) của Trương Hoa (張華, 232-300) nhà Tấn có câu: “Bẩm tư tự nhiên, kim chất ngọc tướng (稟姿自然、金質玉相, hình dáng tự nhiên, chất vàng tướng ngọc).” Từ đó, từ nầy còn được dùng để chỉ cho tướng hảo trang nghiêm của các bậc Thánh như Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh Trực Chỉ Sớ (觀無量壽經直指疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 413) quyển 1, phần Quán Kinh Trực Chỉ Sớ Tự (觀經直指疏序), có đoạn: “Dục đỗ toàn thể chi kim dung, tiên chiêm mi hào chi ngọc tướng, Quan Âm thượng đảnh ư Phật quả, Thế Chí hạ động ư hàm linh (欲睹全體之金容、先瞻眉毫之玉相、觀音上頂於佛果、勢至下動於含靈, muốn thấy toàn thể ấy dung vàng, trước nhìn lông mày ấy tướng ngọc, Quan Âm trên đảnh chứng Phật quả, Thế Chí dưới động đến sinh linh).” Hay trong Thiền Môn Chư Tổ Sư Kệ Tụng (禪門諸祖師偈頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1298) quyển 1, phần Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký (釋迦如來成道記) do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, có câu: “Giáo cập Thần Châu, thanh lưu Hoa Hạ, Bột thao sanh quý thế, hoạch phụng chơn đàm, tuy lục tục nhi dĩ tự kim ngôn, tại phiêu linh nhi bất phùng ngọc tướng, kiến văn tận nhĩ, tông trí chiêu nhiên (敎及神州、聲流華夏、勃叨生季世、獲奉眞譚、雖錄續而以敘金言、在飄零而不逢玉相、見聞盡爾、宗致昭然, giáo pháp đến tận Thần Châu [Trung Nguyên], thanh danh vang khắp Hoa Hạ [Trung Quốc], Bột tôi nhờ sanh vào đời tốt, được vâng lời chơn, tuy liên tục mà để tỏ bày lời vàng, vì phiêu lưu mà không gặp tướng ngọc, thấy nghe cùng khắp, tông chỉ sáng ngời).”
- Đại Hùng (s: mahāvīra, 大雄): ý chỉ bậc anh hùng vĩ đại, là đức hiệu của đức Phật, vì Ngài là đấng anh hùng, có đủ năng lực trí tuệ lớn, có thể hàng phục ma chướng, chiến thắng tự thân mình. Vì vậy, tại Chánh Điện tôn thờ đức Phật được gọi là “Đại Hùng Bảo Điện (大雄寶殿, ngôi điện báu của đấng Đại Hùng).” Như trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262), Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất (從地踊出品) thứ 15, có câu: “Thiện tai ! Thiện tai ! Đại hùng Thế Tôn ! (善哉、善哉、大雄世尊, Lành thay ! Lành thay ! Đức Thế Tôn đại hùng !).” Hay trong Phụ Tử Hợp Tập Kinh (父子合集經, Taishō Vol. 11, No. 320) quyển 13, Phẩm Tịnh Cư Thiên Tử Thuyết Kệ Tán Phật (淨居天子說偈讚佛品) thứ 24, có đoạn: “Đại hùng mãnh Thế Tôn, xả sanh tử trọng đảm, cần tu vô thối khuất, tốc chí ư Bồ Đề (大雄猛世尊、捨生死重擔、勤修無退屈、速至於菩提, Thế Tôn đại hùng mãnh, bỏ sống chết gánh nặng, siêng tu không thối chuyển, mau đến nơi Bồ Đề).” Hoặc như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 7, phần Trú Kim Lăng Thiên Giới Thiền Tự Ngữ Lục (住金陵天界禪寺語錄), lại có câu: “Đại Hùng Điện niêm hương, hoàng kim điện thượng Tam Tôn Phật, bạch ngọc quang trung nhất cá tăng (大雄殿拈香、黃金殿上三尊佛、白玉光中一箇僧, nơi Điện Đại Hùng niêm hương, vàng ròng trên điện Ba Đấng Phật, ngọc trắng hào quang một lão tăng).”
- Đại Lực (大力): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho sức mạnh của đại tự nhiên. Như trong bài Trường Ca Hành (長歌行) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Đại lực vận thiên địa (大力運天地, đại lực vận hành trời đất).” (2) Chỉ sức mạnh vô cùng to lớn. (3) Tôn xưng của đức Phật, chỉ cho đấng có sức mạnh tâm linh trí tuệ to lớn, có thể đoạn tận phiền não, vô minh. Như trong Phật Thuyết Đại Thừa Bồ Tát Tạng Chánh Pháp Kinh (佛說大乘菩薩藏正法經, Taishō Vol. 11, No. 316) quyển 26 có đoạn: “Ư kỳ chánh pháp bất nhạo thân cận, thiết kiến hữu nhân ư chư khế kinh, nhi sanh cung kính tôn trọng cúng dường, hữu đại lực năng chủng chủng xưng tán (於其正法不樂親近、設見有人於諸契經、而生恭敬尊重供養、有大力能種種稱讚, đối với chánh pháp của vị ấy không muốn gần gủi, như thấy có người đối với các khế kinh, mà sanh cung kính tôn trọng cúng dường, có năng lực lớn có thể xưng tán các loại).” Hay trong Thích Thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn (釋禪波羅蜜次第法門, Taishō Vol. 46, No. 1916) quyển 10 có câu: “Lợi căn Thanh Văn cụ thử lục pháp Phát Chân Vô Lậu, tức thành bất hoại pháp đại lực A La Hán (利根聲聞具此六法發眞無漏、卽成不壞法大力阿羅漢, Thanh Văn lợi căn có đủ sáu pháp Phát Chân Vô Lậu nầy, tức thành A La Hán có năng lực lớn không hoại pháp).”
- Đại Từ Bi (大慈悲): tức đại từ, đại bi, nghĩa là tâm từ bi rộng lớn. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) có dạy rằng: “Chư Phật tâm giả đại từ bi thị, dĩ vô duyên từ nhiếp chư chúng sanh (諸佛心者大慈悲是、以無緣慈攝諸眾生, tâm của chư Phật là từ bi rộng lớn, lấy lòng từ vô duyên mà nhiếp hóa các chúng sanh).” Hay trong Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (慈悲道塲懺法, Taishō Vol. 45, No. 1909) quyển 8, phần Phụng Vị Sư Trưởng Lễ Phật (奉爲師長禮佛) thứ 5, có đoạn: “Phụng vị Hòa Thượng A Xà Lê đồng đàn tôn chứng thượng trung hạ tọa các cập quyến thuộc, quy y thế gian đại từ bi phụ (奉爲和上阿闍梨同壇尊證上中下座各及眷屬、歸依世間大慈悲父, kính vì Hòa Thượng, A Xà Lê, chư vị tôn chứng thượng trung hạ tọa cùng giới đàn cùng các quyến thuộc, quy y đấng cha lành đại từ bi của thế gian).” Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 4, Phẩm Pháp Sư (法師品) thứ 10, cho biết rằng: “Nhất thiết chúng sanh trung đại từ bi tâm thị Như Lai y giả, nhu hòa nhẫn nhục tâm thị Như Lai tòa giả (一切眾生中大慈悲心是如來衣者、柔和忍辱心是如來座者, trong tất cả chúng sanh, tâm đại từ bi là y của Như Lai, tâm nhu hòa nhẫn nhục là tòa ngồi của Như Lai).”
- Bán Ngôn (半言): nửa lời, còn gọi là bán kệ (半偈, nửa bài kệ). Theo Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 14, Phẩm Thánh Hạnh (聖行品), xưa kia khi Như Lai chưa xuất hiện trên đời, lúc bấy giờ đức Phật Thích Ca thị hiện là một người ngoại đạo Bà La Môn, tinh thông hết thảy các học vấn, hành vi rất nhu hòa, tịch tĩnh, tâm thanh tịnh, vô nhiễm. Vị ấy có chí nguyện muốn tìm học kinh điển Đại Thừa; nhưng trải qua một thời gian lâu mà không có kết quả. Sau ông vào trong núi Tuyết Sơn tu khổ hạnh, hành Thiền định và chờ đợi đấng Như Lai xuất hiện để được nghe giáo pháp Đại Thừa. Thấy vậy, Trời Đế Thích bèn biến hóa thành một con quỷ La Sát rất hung dữ, đáng sợ, bay đến gần chỗ vị tiên nhân, rồi lớn tiếng tuyên thuyết nửa bài kệ tụng do trước kia đã từng nghe từ đức Như Lai rằng: “Chư hành vô thường, hữu sinh hữu diệt (諸行無常、有生有滅, các hành vô thường, có sinh thì có diệt)”, và đến bên tiên nhân đảo mắt hung tợn nhìn khắp bốn phương. Nghe xong nữa bài kệ nầy, tiên nhân cảm thấy như có được thuốc hay để trị lành căn bệnh lâu ngày, như rơi xuống nước mà được thuyền cứu vớt, như đất hạn hán lâu ngày gặp nước mưa, như thân hình bị giam hãm lâu ngày nay được phóng thích; nên thân tâm rất hoan hỷ. Tiên nhân đứng dậy nhìn quanh, chỉ thấy con quỷ La Sát thân hình hung tợn, nên rất hồ nghi không biết ai đã tuyên thuyết câu kệ vi diệu như vậy; cuối cùng mới biết do con quỷ La Sát thuyết. Vị tiên nhân chí thành cầu xin con quỷ nói tiếp nửa bài kệ sau; sau nhiều lần thử thách, con quỷ vẫn không bằng lòng; cho nên vị tiên nhân phát nguyện hiến cả thân mạng cho con quỷ đói, chỉ với mục đích là nghe được chánh pháp mà thôi. Nhân đó, quỷ La Sát thuyết nữa câu kệ sau: “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc (生滅滅已、寂滅爲樂, sinh diệt diệt hết, vắng lặng an vui)”. Nghe xong, vị Bà La Môn biết câu kệ nầy rất có lợi ích cho mọi người, liền khắc lên khắp nơi như vách đá, thân cây, v.v., để lưu truyền cho hậu thế. Sau đó, ông leo lên cây cao, buông mình xuống để xả thân cho con quỷ đói ăn, theo như lời phát nguyện. Lúc bấy giờ, trên không trung văng vẳng âm thanh vi diệu, các vua Trời cùng Trời Đế Thích hiện nguyên thân hình đón lấy thân thể vị Bà La Môn, cung kính đảnh lễ và cầu xin hóa độ cho họ trong tương lai. Nhờ nhân duyên xả thân mạng để nghe được nửa câu kệ như vậy, sau 12 kiếp tu hành, vị Bà La Môn thành Phật trước cả Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, 彌勒). Ngoài ra, trong Bách Nghiệp Kinh (百業經), có đề cập đến câu chuyện tiền thân của Đức Phật là của Tích Phổ Quốc Vương (昔普國王) cũng tương tự như vậy; song nội dung chuyện và văn kệ có phần khác. Đức vua là người có tâm từ bi lớn, chuyên bố thí khắp mọi người, thương yêu thần dân hết mực. Trời Đế Thích thấy vậy muốn thử tâm của nhà vua, bèn biến thành con quỷ La Sát, đến trước vua tuyên thuyết nửa câu kệ rằng: “Chư pháp giai vô thường, nhất thiết sinh diệt tánh (諸法皆無常、一切生滅性, các pháp đều vô thường, tất cả có tánh sinh diệt)”. Nghe xong pháp xong, đức vua sanh tâm hoan hỷ, liền cung kính đảnh lễ La Sát và cầu xin cho nghe nửa câu kệ sau với lời phát nguyện sẽ dâng hiến thịt máu của vua cho con quỷ. Trước lời thỉnh cầu chí thành của nhà vua, quỷ La Sát nói tiếp nửa câu kệ sau là: “Sinh diệt tức diệt tận, bỉ đẳng tịch diệt lạc (生滅卽滅盡、彼等寂滅樂, sinh diệt đã diệt hết, ấy niềm vui vắng lặng)”. Sau khi nghe được cả bài kệ, đức vua lấy toàn bộ thịt máu của mình dâng cho quỷ La Sát. Lúc bấy giờ, đại địa chấn động, trời người rãi hoa cúng dường và tán thán đại nguyện của Tích Phổ Quốc Vương. Sau nầy, Huyền Trang (玄奘, 602-664) có làm bài “Đề Bán Kệ Xả Thân Sơn (題半偈捨身山)” rằng: “Hốt văn bát tự siêu thi cảnh, bất tích đơn xu xả thử sơn, kệ cú thiên lưu phương thạch thượng, nhạc âm thời tấu bán không gian (忽聞八字超詩境、不惜丹軀捨此山、偈句篇留方石上、樂音時奏半空間, chợt nghe tám chữ siêu thi hứng, chẳng tiếc thân mình bỏ núi non, câu kệ còn lưu trên vách đá, nhạc âm vang vọng nửa không gian).” Ngoài ra, Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺, 675-713), tác giả của bài Chứng Đạo Ca (証道歌), cũng có Bán Cú Kệ rằng: “Sanh dã điên đảo, tử dã điên đảo (生也顚倒、死也顚倒, sống cũng điên đảo, chết cũng điên đảo).”
- Tứ Cú (四句): bốn câu. Nguyên tắc hình thành 4 câu nầy không quan hệ đến số lượng chữ để hình thành nên các bài kệ, bao hàm yếu nghĩa, triết lý của kinh luận; cho nên kinh dạy rằng nếu dùng 4 câu nầy để giáo hóa mọi người, hay tự mình thọ trì thì sẽ có công đức lớn. Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh (大乘本生心地觀經, Taishō Vol. 3, No. 159) quyển 2 có dạy rằng: “Khuyên các chúng sanh, cùng phát tâm nầy, nên lấy pháp chơn thật, một kệ bốn câu, ban cho một chúng sanh, khiến cho hướng đến vô thượng chánh đẳng Bồ Đề; đó là chơn thật Ba La Mật Đa.” Từ Tứ Cú nầy có một số thuật ngữ liên quan như Tứ Cú Kệ (四句偈), Tứ Cú Thành Đạo (四句成道), Tứ Cú Niệm Phật (四句念佛), Tứ Cú Suy Kiểm (四句推檢), Tứ Cú Bách Phi (四句百非), v.v. Như bài Tứ Cú Kệ do quỷ La Sát thuyết cho đức Phật khi còn là tiên nhân tu trong núi Tuyết Sơn là: “Chư hành vô thường, hữu sinh hữu diệt, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc (諸行無常、有生有滅、生滅滅已、寂滅爲樂, các hành vô thường, có sinh có diệt, sinh diệt diệt hết, vắng lặng an vui.” Hay như trong Kim Cang Kinh (s:Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, 金剛經) có Tứ Cú Kệ về 4 quả vị là “Ngộ đắc sơ cú, y nghĩa tu hành, tiện chứng Dự Lưu, Tu Đà Hoàn quả (悟得初句、依義修行、便證預流、須陀洹果, ngộ được câu đầu, theo nghĩa tu hành, bèn chứng Dự Lưu, Tu Đà Hoàn quả)”; “Ngộ nhị cú ý, y nghĩa tu hành, tiện chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả (悟二句意、依義修行、便證一來、斯陀含果, câu hai ý ngộ, theo nghĩa tu hành, bèn chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả)”; “Ngộ tam cú ý, y nghĩa tu hành, tiện chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả (悟三句意、依義修行、便證不來、阿那含果, câu ba ý ngộ, theo nghĩa tu hành, bèn chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả)”; “Ngộ tứ cú ý, y nghĩa tu hành, sử chứng Vô Sanh, A La Hán quả (悟四句意、依義修行、使證無生、阿羅漢果, ngộ ý câu bốn, theo nghĩa tu hành, khiến chứng Vô Sanh, A La Hán quả).” Tứ Cú Thành Đạo là bài kệ gồm 4 câu do vị A La Hán tụng lên khi thành đạo: “Chư lậu dĩ tận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu (諸漏已盡、梵行已立、所作已辨、不受後有, các lậu đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng chịu thân sau)”. Hay Tứ Cú Niệm Phật là “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát, Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (南無阿彌陀佛、南無觀世音菩薩、南無大勢至菩薩、南無清淨大海眾菩薩).”
- Lục Căn (s: ṣaḍ-indriyāṇi, 六根): hay còn gọi là Lục Tình (六情), tức 6 cơ quan cảm giác hay năng lực nhận thức, là Sáu Xứ trong Mười Hai Xứ, Sáu Căn Giới trong Mười Tám Giới. Căn (s, p: indriya, 根) có nghĩa là cơ quan nhận thức. Sáu Căn gồm: (1) Nhãn (s: cakṣus, p: cakkhu, 眼, mắt, cơ quan và năng lực thị giác); (2) Nhĩ (s: śrotra, śrotas, p: sota, 耳, tai, cơ quan và năng lực thính giác); (3) Tỷ (s: ghrāṇa, p: ghāna, 鼻, mũi, cơ quan và năng lực khứu giác); (4) Thiệt (s: jihvā, p: jivhā, 舌, lưỡi, cơ quan và năng lực vị giác); (5) Thân (s, p: kāya, 身, thân thể, cơ quan và năng lực xúc giác); và (6) Ý (s: manaḥ, p: mano, manas, 意, ý, cơ quan và năng lực tư duy). Năm Căn đầu được gọi là Ngũ Căn (五根), thuộc về sắc pháp, có 2 loại: cơ quan sinh lý là Phù Trần Căn (浮塵根, hay Thô Sắc Căn [粗色根]), tức 5 căn nầy hiện hình trạng ra bên ngoài; còn Ý Căn là nơi nương tựa của tâm để sanh khởi tâm lý, nương vào Phù Trần Căn để có thể phát sinh tác dụng thấy, nghe, hiểu biết, v.v.; có tên là Thắng Nghĩa Căn (勝義根, hay Tịnh Sắc Căn [淨色根]). Như trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 6 có dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh, Lục Thức tạo nghiệp, sở chiêu ác báo, tùng Lục Căn xuất (一切眾生、六識造業、所招惡報、從六根出, hết thảy chúng sanh, Sáu Thức tạo nghiệp, ác báo nhận lấy, do Sáu Căn ra).” Hay trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1220) có giải thích về Lục Căn thanh tịnh rằng: “Lục Ba La Mật giả, tức tịnh Lục Căn dã; Hồ danh Ba La Mật, Hán danh đạt bỉ ngạn, dĩ Lục Căn thanh tịnh, bất nhiễm Lục Trần, tức thị độ phiền não hà, chí Bồ Đề ngạn; cố danh Lục Ba La Mật (六波羅蜜者、卽淨六根也、胡名波羅蜜、漢名達彼岸、以六根清淨、不染六塵、卽是度煩惱河、至菩提岸、故名六波羅蜜, Sáu Ba La Mật tức là làm trong sạch Sáu Căn; người Ấn Độ gọi là Ba La Mật, người Trung Quốc gọi là qua bờ bên kia; do Sáu Căn trong sạch, không nhiễm Sáu Trần, tức là qua sông phiền não, đến bờ Bồ Đề; nên được gọi là Sáu Ba La Mật).” Hoặc trong bài Di Sơn Phát Nguyện Văn (怡山發願文) của Thiền Sư Di Sơn Kiểu Nhiên (怡山皎然, ?-?) nhà Đường cũng có câu: “Đệ tử mỗ giáp, tự vi chơn tánh, uổng nhập mê lưu, tùy sanh tử dĩ phiêu trầm, trục sắc thanh nhi tham nhiễm; Thập Triền Thập Sử, tích thành Hữu Lậu chi nhân; Lục Căn Lục Trần, vọng tác vô biên chi tội (弟子某甲、自違眞性、枉入迷流、隨生死以飄沉、逐色聲而貪染、十纏十使、積成有漏之因、六根六塵、妄作無邊之罪, đệ tử …, tự sai chơn tánh, lầm nhập dòng mê, theo sanh tử để thăng trầm, đắm sắc thanh mà tham nhiễm; Mười Triền Mười Sử, tích thành Hữu Lậu nhân sâu, Sáu Căn Sáu Trần, lầm tạo vô biên tội lỗi).”
- Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身): tên gọi một trong 3 thân của Phật, gồm Pháp Thân, Báo Thân (報身) và Ứng Thân (應身). Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình, đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như; còn được gọi là Pháp Thân Phật, Pháp Tánh Thân, Tự Tánh Thân, Như Như Phật, Như Như Thân, Đệ Nhất Thân, v.v. Đây là nhân cách hóa Phật tánh, tượng trưng cho Phật pháp tuyệt đối, chân lý không nơi đâu mà không hiện hữu, bao hàm khắp tất cả mọi nơi. Đức Phật là đấng giác ngộ, nên Pháp Thân là Giác Tánh (覺性, tánh giác ngộ), Báo Thân là Giác Tướng (覺相, tướng giác ngộ) và Ứng Thân là Giác Dụng (覺用, sự diệu dụng của giác ngộ). Lại nữa, Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) có lập ra Tam Pháp Thân (三法身, ba loại Pháp Thân), gồm Pháp Hóa Sanh Thân (法化生身), Ngũ Phần Pháp Thân (五分法身) và Thật Tướng Pháp Thân (實相法身). Pháp Hóa Sanh Thân là hóa thân Phật do pháp tánh hóa hiện; Ngũ Phần Pháp Thân là thân thể có 5 phần công đức như Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến. Thật Tướng Pháp Thân là thật tướng của các pháp vốn có tánh Không. Ngoài ra, cũng có Tam Pháp Thân khác do Thiên Thai Tông lập ra, gồm Không Pháp Thân (空法身, Pháp Thân của Tiểu Thừa), Tức Giả Pháp Thân (卽假法身, Pháp Thân của Đại Thừa Biệt Giáo) và Tức Trung Pháp Thân (卽中法身, Pháp Thân của Đại Thừa Viên Giáo). Như trong Niệm Phật Khởi Duyên Di Đà Quán Kệ Trực Giải (念佛起緣彌陀觀偈直解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1195) có giải thích về Pháp Thân rằng: “Pháp Thân giả, tức Như Lai Tạng Đại Niết Bàn thể, sanh diệt tâm diệt, chơn như tâm hiện, tức danh Pháp Thân; thử thân vô độ khả lai, vô độ khả khứ, bổn Pháp Giới Thân, châu biến nhất thiết (法身者、卽如來藏大涅槃體、生滅心滅、眞如心現、卽名法身、此身無土可來、無土可去、本法界身、周遍一切, Pháp Thân tức là thể của Như Lai Tạng Đại Niết Bàn, tâm sanh diệt mà diệt, thì tâm chơn như hiển hiện, tức gọi là Pháp Thân; thân nầy không quốc độ nào có thể đến, không quốc độ nào có thể đi, vốn là thân của Pháp Giới, biến khắp tất cả).” Hay trong Phật Tam Thân Tán (佛三身讚, Taishō Vol. 32, No. 1678) có bài kệ về Pháp Thân rằng: “Ngã kim khể thủ Pháp Thân Phật, vô dụ nan tư phổ biến trí, sung mãn pháp giới vô quái ngại, trạm nhiên tịch tĩnh vô đẳng đẳng, phi hữu phi vô tánh chân thật, diệc phi đa thiểu ly số lượng, bình đẳng vô tướng nhược hư không, phước lợi tự tha diệc như thị (我今稽首法身佛, 無喻難思普遍智, 充滿法界無罣礙, 湛然寂靜無等等, 非有非無性眞實, 亦非多少離數量, 平等無相若虛空, 福利自他亦如是, con nay cúi lạy Pháp Thân Phật, chẳng sánh khó lường trí rộng khắp, đầy tròn pháp giới không ngăn ngại, sáng trong vắng lặng không so sánh, chẳng có chẳng không tánh chân thật, cũng chẳng nhiều ít lìa tính lượng, bình đẳng không tướng như hư không, phước lợi ta người cũng như vậy).” Trong Tứ Phần Luật Sưu Huyền Ký (四分律搜玄錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 41, No. 732) quyển 1 cho biết rằng: “Pháp Thân danh Tỳ Lô Giá Na (法身名毗盧遮那, Pháp Thân có tên gọi là Tỳ Lô Giá Na).” Do đó mà có câu cúng dường “Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật (清淨法身毗盧遮那佛).”
- Báo Thân (s: saṃbhoga-kāya, 報身): chỉ cho thân quả báo của Phật; còn gọi là Báo Phật (報佛), Báo Thân Phật (報身佛), Thọ Pháp Lạc Phật (受法樂佛); hoặc được dịch là Thọ Dụng Thân (受用身), Thực Thân (食身), Ứng Thân (應身); là một trong 3 thân (Pháp Thân, Ứng Thân và Hóa Thân) và 4 thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân và Hóa Thân) của Phật; tức là thân Phật có quả báo nhân vị vô lượng nguyện hạnh, vạn đức viên mãn. Đây cũng là thân kết quả của sự báo ứng các nguyện hạnh đầy đủ của vị Bồ Tát mới phát tâm tu tập cho đến tròn đầy Mười Địa. Như A Di Đà Phật, Dược Sư Như Lai, Lô Xá Na Phật, v.v., đều là Báo Thân Phật. Báo Thân lấy Đại Trí (大智, tức trí tuệ không phân biệt của bậc Thánh), Đại Định (大定, nghĩa là không tác ý) và Đại Bi (大悲, tâm từ bi có thể giúp cứu bạt nỗi khổ của chúng sanh) làm thể; có đầy đủ vô lượng sắc tướng, muôn công đức của Thập Lực (s: daśa-bala, p: dasa-bala, 十力, Mười Lực), Tứ Vô Úy (s: catur-vaiśāradya, p: catu-vesārajja, 四無畏, Bốn Vô Úy), v.v. Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 9 cho biết rằng đức Phật có hai thân là Pháp Tánh Thân (法性身, Thân Pháp Tánh) và Phụ Mẫu Sanh Thân (父母生身, thân do cha mẹ sanh ra). Pháp Tánh Thân thì biến khắp cùng hư không, tướng hảo trang nghiêm, có vô lương hào quang sáng rực và vô lượng âm thanh. Quyển 30 cùng điển tịch nầy còn nêu rõ rằng đức Phật lại có hai thân là Chơn Thân (眞身) và Hóa Thân. Chơn Thân thì cùng khắp hư không, âm thanh thuyết pháp của thân nầy cũng biến khắp mười phương vô lượng thế giới, nhưng chỉ có vị Bồ Tát ở địa vị Thập Trụ (十住) mới có thể lấy trí lực phương tiện không thể nghĩ bàn mà nghe được. Quyển 33 lại nêu ra hai loại thân khác là Pháp Tánh Sanh Thân (法性生身) và Tùy Thế Gian Thân (隨世間身). Pháp Tánh Sanh Thân thường có vô lượng vô số không thể tính đếm các vị Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ theo hầu. Thông thường thân nầy chỉ cho Thật Báo Thân (實報身) của Phật. Đối với nội chứng cũng như ngoại dụng của Báo Thân, căn cứ trên nghĩa thọ dụng, Thiên Thai học giả chia Báo Thân thành Tự Thọ Dụng Báo Thân (自受用報身) và Tha Thọ Dụng Báo Thân (他受用報身); rồi căn cứ trên quốc độ cư trú của Báo Thân mà phân thành Chơn Báo Thân Độ (眞報身土) và Ảnh Hiện Báo Thân Độ (影現報身土). Chơn Báo Thân Độ chính là nơi chư vị Bồ Tát thị hiện trên mặt đất, là cõi nước Báo Thân để dùng phương tiện giáo hóa, truyền đạo. Thọ Dụng Thân (受用身) của Pháp Tướng Tông và Duy Thức Tông đồng nghĩa với thân nầy. Đại Thừa Đồng Tánh Kinh (大乘同性經, Taishō Vol. 16, No. 673) quyển Thượng cho rằng thành Phật nơi cõi uế độ tương đối là Hóa Thân, thành Phật nơi cõi Tịnh Độ là Báo Thân. Trong Phật Tam Thân Tán (佛三身讚, Taishō Vol. 32, No. 1678) có bài kệ về Báo Thân rằng: “Ngã kim khể thủ Báo Thân Phật, trạm nhiên an trú đại Mâu Ni, ai mẫn hóa độ Bồ Tát chúng, xứ hội như nhật nhi phổ chiếu, Tam Kỳ tích tập chư công đức, thỉ năng viên mãn tịch tĩnh đạo, dĩ đại âm thanh đàm diệu pháp, phổ linh hoạch đắc bình đẳng quả (我今稽首報身佛、湛然安住大牟尼、哀愍化度菩薩眾、處會如日而普照、三祇積集諸功德、始能圓滿寂靜道、以大音聲談妙法、普令獲得平等果, con nay cúi lạy Báo Thân Phật, sáng trong an trú đức Mâu Ni, xót thương hóa độ chúng Bồ Tát, khắp chốn như trời chiếu cùng khắp, ba đời tích tập các công đức, mới thể tròn đầy đạo vắng lặng, lấy âm thanh lớn bàn pháp mầu, khiến cho đạt được bình đẳng quả).” Hay trong Triệu Luận Lược Chú (肇論略註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 54, No. 873) quyển 5 có giải thích rằng: “Dĩ tam thế chư Phật khoáng kiếp tu nhân, chứng thử nhất tâm chi thể, danh vi Pháp Thân; dĩ thù quảng đại chi nhân, danh vi Báo Thân; tùy cơ ích vật, danh vi Hóa Thân; nhất thiết chư Phật giai cụ Tam Thân; Pháp Thân vi thể, Hóa Thân vi dụng, hữu cảm tức hiện, vô cảm tức ẩn (以三世諸佛曠劫修因、證此一心之體、名爲法身、以酬廣大之因、名爲報身、隨機益物、名爲化身、一切諸佛皆具三身、法身爲體、化身爲用、有感卽現、無感卽隱, vì ba đời các đức Phật muôn kiếp tu nhân, chứng thể nhất tâm nầy, nên gọi là Pháp Thân; để báo ứng nhân to lớn nầy, nên gọi là Báo Thân; tùy cơ duyên mà làm lợi ích muôn loài, nên gọi là Hóa Thân; hết thảy các đức Phật đều có đủ Ba Thân; Pháp Thân làm thể, Hóa Thân làm dụng, có cảm tức hiển hiện, không cảm thì ẩn tàng).” Trong Tứ Phần Luật Sưu Huyền Ký (四分律搜玄錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 41, No. 732) quyển 1 cho biết rằng: “Báo Thân danh Lô Xá Na (報身名盧舍那, Báo Thân có tên gọi là Lô Xá Na).” Vì vậy, có câu cúng dường “Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật (圓滿報身盧舍那佛).”
- Hóa Thân (s: nirmāṇa-kāya, j: keshin, 化身): nghĩa là thân biến hóa, là một trong 3 thân (Pháp Thân, Ứng Thân và Hóa Thân) và 4 thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân và Hóa Thân) của Phật. Nó còn được gọi là Ứng Phật, Ứng Thân Phật, Ứng Hóa Thân. Để cứu độ và giáo hóa chúng sanh, chư Phật và Bồ Tát đã hóa hiện ra 33 loại thân cũng như trăm ngàn ức loại thân khác nhau; cho nên có tên gọi “Thiên Bách Ức Hóa Thân (千百億化身).”Như trong Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖大師法寶壇經, Taishō Vol. 48, No. 2008), Phẩm Sám Hối (懺悔品) thứ 6, có đoạn: “Hà danh Thiên Bách Ức Hóa Thân ? Nhược bất tư vạn pháp, tánh bổn như không, nhất niệm tư lường, danh vi biến hóa; tư lường ác sự, hóa vi Địa Ngục, tư lường thiện sự, hóa vi Thiên Đường, độc hại, hóa vi long xà, từ bi, hóa vi Bồ Tát, trí tuệ, hóa vi thượng giới, ngu si, hóa vi hạ phương, tự tánh biến hóa thậm đa, mê nhân bất năng tỉnh giác, niệm niệm khởi ác, thường hành ác đạo, hồi nhất niệm thiện, trí tuệ tức sanh, thử danh Tự Tánh Hóa Thân Phật (何名千百億化身、若不思萬法、性本如空、一念思量、名爲變化、思量惡事、化爲地獄、思量善事、化爲天堂、毒害、化爲龍蛇、慈悲、化爲菩薩、智慧、化爲上界、愚癡、化爲下方、自性變化甚多、迷人不能省覺、念念起惡、常行惡道、迴一念善、智慧卽生、此名自性化身佛, thế nào là Trăm Ngàn Ức Hóa Thân ? Nếu không tư duy vạn pháp, tánh vốn là không, một niệm tư lường, gọi là biến hóa; suy nghĩ việc ác, hóa thành Địa Ngục; suy nghĩ việc thiện, hóa thành Thiên Đường; độc hại thì hóa làm rồng rắn; từ bi thì hóa làm Bồ Tát; trí tuệ thì hóa thành cõi trên, ngu si thì hóa thành cõi dưới; tự tánh biến hóa rất nhiều, người mê chẳng thể tỉnh thức, mỗi niệm khởi ác, thường hành đường ác, trở về niệm lành, trí tuệ liền sanh; đây gọi là Tự Tánh Hóa Thân Phật).” Hay như trong Phật Tam Thân Tán (佛三身讚, Taishō Vol. 32, No. 1678) có bài kệ về Hóa Thân rằng: “Ngã kim khể thủ Hóa Thân Phật, Bồ Đề thọ hạ thành chánh giác, hoặc khởi biến hiện hoặc tịch tĩnh, hoặc phục vãng hóa ư thập phương, hoặc chuyển pháp luân ư Lộc Uyển, hoặc hiện đại quang như hỏa tụ, Tam Đồ khổ báo tất năng trừ, Tam Giới vô tỷ đại Mâu Ni (我今稽首化身佛、菩提樹下成正覺、或起變現或寂靜、或復往化於十方、或轉法輪於鹿苑、或現大光如火聚、三塗苦報悉能除、三界無比大牟尼, con nay cúi lạy Hóa Thân Phật, dưới cội Bồ Đề thành chánh giác, hoặc khởi biến hiện hoặc vắng lặng, hoặc lại hóa hiện khắp mười phương, hoặc chuyển xe pháp nơi Lộc Uyển, hoặc hiện hào quang như lửa rực, Ba Đường khổ báo thảy đều trừ, Ba Cõi đâu bằng đức Mâu Ni).” Trong Tứ Phần Luật Sưu Huyền Ký (四分律搜玄錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 41, No. 732) quyển 1 cho biết rằng: “Hóa Thân danh Thích Ca Mâu Ni (化身名釋迦牟尼, Hóa Thân có tên gọi là Thích Ca Mâu Ni).” Vì vậy, có câu cúng dường “Thiên Bách ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật (千百億化身釋迦牟尼佛).”
- Kim Liên (金蓮): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Hoa sen bằng vàng. Như trong bài thơ Nam Triều (南朝) của Lý Thương Ẩn (李商隱, khoảng 813-858) nhà Đường có câu: “Thùy ngôn quỳnh thọ triêu triêu kiến, bất cập kim liên bộ bộ lai (誰言瓊樹朝朝見、不及金蓮步步來, ai bảo cây quỳnh sáng sáng thấy, chẳng bằng sen vàng bước bước đi).” (2) Chỉ cho bàn chân bó nhỏ lại của người nữ theo tục lệ ngày xưa. Như trong bài Hòa Hàn Trí Quang Thị Lang Vô Đề (和韓致光侍郎無題) 2 của Ngô Dung (吳融, ?-?) nhà Đường có câu: “Ngọc trứ hòa trang ấp, kim liên trục bộ tân (玉箸和妝裛、金蓮逐步新, đũa ngọc cùng áo kép, gót vàng theo bước xinh).” (3) Chỉ cho tòa sen, tòa ngồi của Phật hình hoa sen. Như trong bài Thất Ngôn (七言) thứ 9 của Lữ Nham (呂岩, 798-?) nhà Đường có câu: “Thủy trung bạch tuyết vi vi kết, hỏa lí kim liên tạm tạm sanh (水中白雪微微結、火裏金蓮漸漸生, trong nước tuyết trắng nho nhỏ kết, lửa rực đài sen dần dần sinh).” (4) Chỉ hoa đăng. Như trong tác phẩm Tuyên Hòa Di Sự (宣和遺事) có câu: “Kim liên vạn trản, tản hướng thiên cù (金蓮萬盞、撒向天街, hoa đăng muôn ngọn, tung khắp không gian).” Trong Chỉ Nguyệt Lục (指月錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 83, No. 1578) quyển 31 có đoạn: “Kim liên tùng địa dũng, bảo cái tự thiên thùy, vi thị thần thông diệu dụng, vi thị pháp nhĩ như nhiên (金蓮從地湧、寶蓋自天垂、爲是神通妙用、爲是法爾如然, sen vàng từ đất vọt, lọng báu tự trời buông, đó là thần thông diệu dụng, đó là pháp vốn tự nhiên).” Hay trong Ảnh Hưởng Tập (影響集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1209), bài Tịnh Độ Thi (淨土詩), có đoạn: “Nhất cú Di Đà tận lực xưng, Tam Đồ Bát Nạn tổng siêu thăng, trì danh diệt tội kim liên hiện, bi nguyện toàn bằng Phật lực tăng (一句彌陀盡力稱、三塗八難總超升、持名滅罪金蓮現、悲願全憑佛力增, một câu Di Đà tận lực xưng, Ba Đường Tám Nạn thảy siêu thăng, trì danh diệt tội sen vàng hiện, bi nguyện toàn nhờ Phật lực tăng).”
- Đẳng Giác (等覺): tên gọi khác của đức Phật, còn gọi là Đẳng Chánh Giác (等正覺), một trong 10 đức hiệu của Phật. Đẳng (等) nghĩa là bình đẳng; giác (覺) tức là giác ngộ; sự giác ngộ của chư Phật là bình đẳng, nhất như, nên được gọi là Đẳng Giác. Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 10 có cho biết rằng: “Chư Phật đẳng cố, danh vi Đẳng Giác (諸佛等故、名爲等覺, các đức Phật bình đẳng nên có tên là Đẳng Giác).” Hay như trong Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sanh Kệ Bà Tẩu Bàn Đầu Bồ Tát Tạo Tinh Chú (無量壽經優婆提舍願生偈婆藪槃頭菩薩造幷註, tức Tịnh Độ Luận Chú [淨土論註], Vãng Sanh Luận Chú [往生論註], Taishō Vol. 40, No. 1819) quyển Thượng cũng giải thích rằng: “Dĩ chư pháp đẳng cố, chư Như Lai đẳng, thị cố chư Phật Như Lai danh vi Đẳng Giác (以諸法等故、諸如來等、是故諸佛如來名爲等覺, vì các pháp bình đẳng, nên các Như Lai bình đẳng, vì vậy các đức Phật Như Lai có tên gọi là Đẳng Giác).” Trong 52 vị của giai vị Đại Thừa, vị Bồ Tát ở giai vị thứ 51 được gọi là Đẳng Giác, là địa vị tối cao của Bồ Tát. Nghĩa là khi đầy đủ ba kỳ trăm kiếp tu hành, Bồ Tát của Biệt Giáo thì đoạn tận 11 phẩm vô minh, Bồ Tát của Viên Giáo thì đoạn tận 41 phẩm vô minh, sẽ chứng đắc Phật quả Diệu Giác; công đức trí tuệ của vị ấy ngang hàng với Diệu Giác; nên được có tên là Đẳng Giác, hay gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ (一生補處, ý chỉ một kiếp kế tiếp sẽ thành Phật), Kim Cang Tâm (金剛心, tâm kiên cố như kim cương, có thể phá tan phiền não), Hữu Thượng Sĩ (有上士, đức Phật Diệu Giác thì được gọi là Vô Thượng Sĩ, bậc Đẳng Giác thì có tên như vậy), Vô Cấu Địa (無垢地, đạt đến cảnh giới không cấu nhiễm), v.v. Như trong Tứ Giáo Nghi (四敎儀, Taishō Vol. 46, No. 1929) quyển 10 có đoạn rằng: “Nhược vọng Pháp Vân danh chi vi Phật, vọng Diệu Giác danh Kim Cang Tâm Bồ Tát, diệc danh Vô Cấu Địa Bồ Tát (若望法雲名之爲佛、望妙覺名金剛心菩薩、亦名無垢地菩薩, nếu hướng về quả vị Pháp Vân Địa thì gọi đó là Phật, hướng về Diệu Giác thì gọi là Bồ Tát Kim Cang Tâm, cũng có tên là Bồ Tát Vô Cấu Địa).” Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 1 khẳng định rằng: “Cứu cánh tức Bồ Đề giả, Đẳng Giác nhất chuyển nhập ư Diệu Giác (究竟卽菩提者、等覺一轉入於妙覺, cứu cánh tức Bồ Đề nghĩa là Đẳng Giác một lần chuyển nhập vào Diệu Giác).”
- Diệu Giác (妙覺): tự giác ngộ chính mình, làm cho người khác giác ngộ, sự giác ngộ và hạnh nguyện tròn đầy, không thể nghĩ bàn, đó gọi là Diệu Giác; tức là quả vị Phật vô thượng chánh giác; là một trong 52 hay 42 giai vị tu hành của Bồ Tát Đại Thừa; còn gọi là Diệu Giác Địa (妙覺地). Hàng Nhị Thừa (Thanh Văn [s: śrāvaka, 聲聞] và Duyên Giác [s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺]) thì dừng lại ở cấp độ tự giác, không có công năng giác tha. Còn Bồ Tát tuy cùng song hành cả tự giác lẫn giác tha, nhưng chưa viên mãn; chỉ có Phật mới viên mãn cả hai, thể giác ngộ không thể nghĩ bàn. Tam Tạng Pháp Số (三藏法數) quyển 26 định nghĩa rằng: “Tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn, bất khả tư nghì, cố danh Diệu Giác Tánh (自覺覺他、覺行圓滿、不可思議、故名妙覺性, tự mình giác ngộ, làm cho người khác giác ngộ, giác ngộ và hạnh nguyện tròn đầy, không thể nghĩ bàn, nên gọi là Tánh Diệu Giác).” Thiên Thai Tứ Giáo Nghi (天台四敎儀, Taishō Vol. 46, No. 1931) do Sa Môn Đế Quán (諦觀) người Cao Lệ thâu lục, giải thích rõ sự sai khác giữa Diệu Giác của Biệt Giáo và Viên Giáo thế nào. Quả vị Diệu Giác của Biệt Giáo ngồi trên tòa Đại Bảo Hoa Vương (大寶華王), dưới cây Bồ Đề có bảy báu thuộc thế giới Liên Hoa Tạng (蓮華藏), hiện Viên Mãn Báo Thân (圓滿報身), vì các Bồ Tát độn căn mà chuyển vô lượng bánh xe pháp Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦). Trong khi đó, quả vị Diệu Giác của Viên Giáo thì lấy hư không làm tòa ngồi, thành tựu Thanh Tịnh Pháp Thân (清淨法身), trú tại Thường Tịch Quang Độ (常寂光土). Như trong Ngột Am Phổ Ninh Thiền Sư Ngữ Lục (兀菴普寧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1404) có giải thích rằng: “Chí thử Diệu Giác vị, vị chi Như Lai địa, thuyết pháp như vân, lợi sanh như vũ, tự lợi lợi tha, độ vị độ dã (至此妙覺位、謂之如來地、說法如雲、利生如雨、自利利他、度未度也, đạt đến quả vị Diệu Giác nầy, gọi đó là cảnh địa của Như Lai, thuyết pháp như mây, làm lợi ích quần sanh như mưa, tự lợi và lợi tha, độ cho những người chưa được độ).” Hay trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 8, Chương Pháp Khí (法器章) thứ 9, lại có câu: “Vị nhân nhân diệu giác bổn vô phàm thánh, vật vật toàn chân ninh hữu tịnh uế (謂人人妙覺本無凡聖、物物全眞寧有淨穢, bảo rằng người người diệu giác vốn không phàm thánh, vật vật toàn chân sao có sạch nhớp).”
- Viên Giác (圓覺): tánh giác viên mãn, nghĩa là lý tánh do Như Lai chứng được có đầy đủ muôn đức, tròn đầy cùng khắp, linh diệu sáng tỏ. Hơn nữa, hết thảy chúng hữu tình đều có bản giác, chơn tâm, từ vô thỉ đến nay thường trú thanh tịnh, sáng rực không mê mờ, rõ ràng thường biết; nếu nói về thể thì đó là nhất tâm; nếu nói về nhân là Như Lai Tạng (如來藏); nói về quả là Viên Giác; cùng đồng nhất với chân như, Phật tánh, pháp giới, Niết Bàn, Bồ Đề, v.v. Trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, gọi tắt là Viên Giác Kinh, Taishō Vol. 17, No. 842) giải thích rằng: “Vô thượng Pháp Vương hữu đại Đà La Ni môn, danh vi Viên Giác, lưu xuất nhất thiết thanh tịnh chân như Bồ Đề Niết Bàn cập Ba La Mật, giáo thọ Bồ Tát (無上法王有大陀羅尼門、名爲圓覺、流出一切清淨眞如菩提涅槃及波羅蜜、敎授菩薩, đấng Pháp Vương vô thượng có pháp môn đại Đà La Ni tên là Viên Giác, lưu xuất hết thảy chân như, Bồ Đề, Niết Bàn và Ba La Mật, dạy dỗ và truyền trao cho Bồ Tát).” Hay trong Viên Giác Kinh Lược Sớ Tự Chú (圓覺經略疏序注, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 10, No. 256) của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密, 780-841) có chú giải rằng: “Vạn pháp hư ngụy, duyên hội nhi sanh, sanh pháp bổn vô, nhất thiết duy thức, thức như huyễn mộng, đản thị nhất tâm, tâm tịch nhi tri, mục chi vi Viên Giác (萬法虛僞、緣會而生、生法本無、一切唯識、識如幻夢、但是一心、心寂而知、目之爲圓覺, muôn pháp không thật, do duyên gặp mà sinh ra, pháp sanh ra vốn không, hết thảy chỉ có biết, biết như huyễn mộng, chỉ là nhất tâm, tâm lặng mà biết, mắt thấy là Viên Giác).”
- Có thể chép nhầm là Khải Định lục niên (啟定六年, Khải Định thứ 6). Nếu là năm Canh Thân (庚申, 1920) thì không phải Khải Định lục niên mà là Khải Định ngũ niên (啟定五年, Khải Định thứ 5), như cuối lòng văn Hoàng Đế Nhị Tôn Khai Kinh Sớ ở trên đã ghi đúng.